Vai trò của hậu phương Bắc Kạn đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Trần Thị Lộc

Trần Thị Lộc

Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Cách đây tròn 70 năm vào mùa thu lịch sử, thị xã Bắc Kạn - thị xã đầu tiên của cả nước được giải phóng vào ngày 09/8/1949, đây là bước ngoặt mở đầu cho những thắng lợi lớn tiếp theo của quân và dân ta. Ngày 24/8/1949, tỉnh Bắc Kạn được giải phóng, đồng bào các dân tộc Bắc Kạn có điều kiện thực hiện nhiệm vụ của một tỉnh hậu phương, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ngay từ chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp nhảy dù chiếm đóng thị xã Bắc Kạn và các thị trấn nằm dọc đường quốc lộ số 3, các huyện lỵ Chợ Rã, Chợ Đồn và Ngân Sơn, chúng đã gặp phải sức chiến đấu của quân, dân ta nên không những không thực hiện được mục tiêu mà còn bị thiệt hại lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh.

Để cứu vãn tình thế khi bị thất bại, quân Pháp cố duy trì một phần lực lượng quân chiếm đóng tại 5 cứ điểm theo dọc quốc lộ số 3 là thị xã Bắc Kạn, Phủ Thông, Nà Phặc, huyện lỵ Ngân Sơn, Bằng Khẩu và lập thêm một số đồn bốt khác. Trong suốt hai năm địch chiếm đóng Bắc Kạn (từ năm 1947 - 1949), quân và dân trong tỉnh đã đoàn kết, đối phó với âm mưu địch về chính trị và quân sự.

Về chính trị, với ý đồ chia rẽ đoàn kết của ta, thành lập “Liên bang Tày - Nùng” bình định Bắc Kạn, địch đã bị nhân dân ta vạch trần âm mưu thâm độc và phá tan các tổ chức phản động.Về quân sự, chúng còn đưa thổ, phỉ ở xung quanh các vùng chúng chiếm đóng để quấy rối nhằm chia rẽ lực lượng của ta, làm cho nhân dân trong tỉnh một mặt phải chống Pháp ở thị xã và các thị trấn, một mặt phải chống thổ, phỉ ở địa phương. Tại Chợ Rã, sau khi Pháp rút lui, bọn phỉ đã tập trung lực lượng đánh phá hòng chiếm đóng huyện lỵ, cướp bóc nhân dân và phá hoại kho tàng của ta; do ta phán đoán được âm mưu của địch, nên trận đánh phá của bọn phỉ vào phố Chợ Rã hoàn toàn bị thất bại, làm cho chúng phải trốn chạy. Để đối phó với địch, đội Ba Bể - đội quân du kích đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn đã anh dũng chiến đấu với những toán quân địch đi càn quét, cướp phá của nhân dân, dẫn đầu cho quân chủ lực đánh đồn Phủ Thông, Nà Phặc và bám sát, bao vây địch ở thị xã làm cho chúng không dám tiến sâu vào nông thôn. Phối hợp với đội Ba Bể, các đội du kích ở các địa phương trong tỉnh đã càn quét, bao vây, cô lập các vị trí địch, làm cho phạm vi chiếm đóng của chúng bị thu hẹp.

Nhìn lại hai năm chiến đấu với địch, nhân dân Bắc Kạn đã phục kích được 14 trận, quấy rối 18 trận, phá hủy được 3 xe, bắn hỏng 4 xe, giết được 56 tên địch, bắt sống được 3 tên và phá một máy vô tuyến điện... Ngoài ra, trên các ngả đường Quốc lộ 3 và đường nội tỉnh, ta đã phá hoại cầu đường làm cản bước tiến của quân địch, kết quả đã đào được 9.840 hố răng lược với 18.691m3, 92 hố cản tăng với 3.283m3 và phá 22 cây cầu.

Sau khi Bắc Kạn được giải phóng, nhân dân trong tỉnh ra sức kiến thiết cầu đường, nối liền giao thông vận tải để đảm bảo tiếp tế cho nhu cầu quân sự. Chỉ trong vòng 2 tháng, đường Quốc lộ số 3 đã được nối liền từ Thái Nguyên đến giáp Cao Bằng. Đầu năm 1950, chiếc xe hơi đầu tiên của tỉnh đã chạy trên đường Bắc Kạn - Cao Bằng, chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới đi đến thắng lợi. Từ năm 1951-1952, địch ra sức phá hoại cầu đường, cản trở việc tiếp tế cho bộ đội ta ngoài mặt trận. Chúng nhằm nơi xung yếu trên đường Quốc lộc 3, liên tiếp thả hàng trăm quả bom phá, gài bom nổ chậm và mìn nhằm giết hại, làm nhụt tinh thần dân công. Nhưng với tinh thần nồng nàn yêu nước và chí căm thù giặc, cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng các cấp đều hăng hái, xung phong luân chuyển nhau tham gia sửa chữa cầu đường, đặc biệt trong những ngày mưa lũ 80% cán bộ đã chuyên trách công tác này; huy động tới 186.469 công và 22.137 công trâu kéo gỗ, 16.800 công thợ chuyên nghiệp, 79.913 công thanh niên và 107.455 công tù binh Âu - Phi. Tổ chức nhân dân bảo vệ cầu đường trên dọc Quốc lộ 3 được 216 tổ với 3.188 tổ viên; địch phá hoại đường ở gần cơ quan nào tổ bảo vệ cơ quan đó chủ động sửa chữa. Khi địch thả bom nổ chậm, ta kịp thời tổ chức các đội phá bom ở các đơn vị dân công, thanh niên và bố trí các nơi xung yếu.

Năm 1952, Bắc Kạn được lệnh đảm bảo giao thông vận tải chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc. Giữa lúc đó, địch liên tiếp thả bom phá đường Đèo Giàng, gây khó khăn đến việc vận chuyển bằng ô tô của ta. Gặp tình thế khó khăn nhất, tỉnh Bắc Kạn đã tìm ra được một con đường vòng qua Đèo Giàng (đường Mỹ Vi) dài 10 cây số do nhân dân tích cực hoàn thành chỉ trong 10 ngày để tránh bom đạn phá hoại của địch, đảm bảo phục vụ cho chiến dịch Tây Bắc thắng lợi.

Đi đôi với địch phá hoại, trong những ngày mưa lũ, nước sông dâng lên ngập cầu, làm cản trở lớn đến công tác đảm bảo giao thông của tỉnh. Cán bộ và nhân dân Bắc Kạn đã không ngại nguy hiểm, khó khăn ngày đêm lặn lội trên tuyến giao thông chống bom đạn của địch, chống mưa lũ và đảm bảo vận chuyển thông suốt tiếp tế ra mặt trận chu đáo.Thời điểm năm 1952, với dân số gần 8 vạn người đã có lúc huy động tới 4.000 người và 1.400 trâu kéo ra mặt đường. Với những thành tích đạt được, tại hội nghị tổng kết chiến dịch cầu đường năm 1951, cán bộ và nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã được Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba và cờ luân lưu thi đua khá nhất của Hồ Chủ tịch.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “bán gạo để khao thưởng bộ đội” phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Biên giới 1950, cả tỉnh đã thu được 410 tấn thóc, 10.085.400 đồng và 2.088.600 đồng công phiếu kháng chiến. Kết thúc chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên dương công trạng 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.Tuy hoàn cảnh kháng chiến có nhiều khó khăn, nhưng nhân dân các dân tộc trong tỉnh đều cố gắng sản xuất để đóng góp tiền, của nuôi bộ đội giết giặc, trong đó công tác thuế nông nghiệp năm 1953, so với nhiệm vụ được giao đạt 102,3% kế hoạch. Trong hội nghị tổng kết thuế nông nghiệp đầu năm 1954, Bắc Kạn được Liên khu khen là tỉnh gương mẫu nhất, được giữ lá cờ thi đua và bức chân dung của Hồ Chủ tịch. Trong kháng chiến, phong trào bình dân học vụ đã thanh toán được nạn mù chữ cho 12.200 người;mạng lưới trường phổ thông phát triển mạnh có 32 trường với 384 lớp và 10.645 học sinh, chiếm 1/7 tỷ lệ dân số. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, người dân Bắc Kạn thiếu ăn, nhưng không bị đói và không có hiện tương ăn xin. Y tế nhân dân cũng có nhiều chuyển biến rõ rệt, từ năm 1953 - 1954, Ty Y tế đào tạo được 49 cán bộ và thành lập được 40 tủ thuốc tại xã, tạo được ý thức trong nhân dân dùng thuốc khi có bệnh, giảm nạn cúng bái mê tín dị đoan khi ốm đau.

Như vậy, trong suốt chiều dài kháng chiến chống Pháp xâm lược, Bắc Kạn vừa là tiền tuyến trực tiếp đánh quân địch chiếm đóng, quét sạch chúng khỏi quê hương, giải phóng toàn tỉnh, vừa là hậu phương phục vụ chiến trường. Sự đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Bắc Kạn trên mọi lĩnh vực trong kháng chiến thể hiện lòng yêu nước thiết tha, tuyệt đối tin theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh của các dân tộc. Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đang nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, xây dựng tỉnh giàu đẹp, phát triển./.

Xem thêm